28 tháng 2, 2014

Sưu tầm bài viết về mình: Giật mình với tác hại từ Facebook

Thông tin Công an Quảng Bình vừa tìm ra đối tượng tung tin bịa đặt“một thanh niên đi xe Camry giết người, vứt xe bỏ chạy” đang khiến dư luận xôn xao.
Ngày 21-2, Ngô Đình Sơn, 21 tuổi, trú tại phường Hải Đình, TP Đồng Hới, Quảng Bình đã tung tin đồn về việc một thanh niên rút súng ngắn bắn chết hai người đi trên xe tải rồi vứt xe Camry ngay trên đường bỏ chạy. Sau đó nhiều trang Facebook khác đã lan truyền rộng rãi tin đồn này trên mạng Internet khiến người dân địa phương hoang mang lo lắng. Trước sự việc này, công an tỉnh Quảng Bình đang xem xét để xử lý nghiêm.
Hệ lụy từ sự lan truyền chóng mặt
Không thể phủ nhận sức mạnh của Facebook ngày càng lớn. Tại Việt Nam, sức lan tỏa của mạng xã hội Facebook đứng ở vị trí số một.
Theo kết quả nghiên cứu của Socialbakers & SocialTimes.Me được công bố tại Hội thảo toàn cảnh Công nghệ thông tin - Truyền thông Việt Nam - VIO 2013 thì đến hết tháng 8-2013, Việt Nam có 19,6 triệu người dùng Facebook, chiếm 21,42% dân số và chiếm tới 71,4% người sử dụng Internet.


Lượng người dùng Facebook ngày càng tăng cao, nhất là giới trẻ. Ảnh: HTD
Ra đường, ở quán ăn, quán nước, người ta dễ dàng nghe được mọi thành phần đang bàn luận nhau về một thông tin vừa được chia sẻ (share) qua Facebook và được lan nhanh chóng mặt.
Sự lan truyền hiển nhiên phải có hệ lụy. Từ giữa năm 2013 đến nay, ngày càng nhiều tin đồn thất thiệt từ những người dùng Facebook tung ra. Có thể kể những thông tin nổi bật: Làn sóng sản phẩm độc hại từ Trung Quốc như Trung Quốc thu mua đỉa của Việt Nam với mục đích sản sinh ra trứng cấy vào thức ăn; bụng một bệnh nhân nữ ở Tuyên Quang toàn đỉa; một gia đình ở Đông Anh (Hà Nội) phát hiện trong hộp sữa mở nắp đã lâu của gia đình có những sinh vật lúc nhúc màu trắng mà họ nghi là đỉa; người dân một xã ở Thừa Thiên-Huế khi ngâm miếng bim bim vào chậu nước, hôm sau phát hiện những sinh vật lạ giống đỉa… Ngay sau đó Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế) đã phải lên tiếng bằng văn bản bác những tin đồn trên.
Hay làn sóng thông tin trộm, cướp, bệnh: Máy ATM có thể bắt trộm; kim tiêm có dính máu nhiễm HIV trên ghế các rạp chiếu phim, xe buýt; mặc quần ngắn ra đường, nữ sinh Hà Nội bị rạch đùi…
Thông tin đưa ra: Phải có trách nhiệm
Người chơi Facebook tỉnh táo sẽ khó tin vào những thông tin giật gân, những lời cảnh báo kiểu như trên. Nhưng ngược lại, cũng chính từ sự giật gân, tò mò mà những thông tin giật gân được chia sẻ vô tội vạ.
Mỗi ngày vô vàn thông tin được người dùng chia sẻ, đặc biệt là các page (trang). Không ít thông tin giật gân được đưa ra từ chủ các page nhằm tăng lượt tương tác (thích, phản hồi, chia sẻ…) qua page của họ nhằm hướng đến lợi ích khác. Thế nhưng người sử dụng mạng xã hội nên có trách nhiệm và cẩn trọng với chính thông tin mình đưa ra. Nếu người sử dụng đưa ra một thông tin sai, chưa cần phải cơ quan chức năng xử lý mà chính họ đã bị cộng đồng quen thuộc của mình “ném đá” và coi như hết đất sống trên đó. Bởi đơn giản Facebook ảo nhưng cũng một phần là thật, người sử dụng luôn cần những cảm xúc thật, thông tin thật trên đó. Facebook cũng như đời thực, sống lừa nhau đâu thể bền lâu!
QUỲNH TRANG

Luật sư Nguyễn Đức ChánhĐoàn Luật sư TP.HCM:
Người tung tin trên Facebook có thể bị phạt hành chính
Hành vi đưa lên mạng Internet những thông tin xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội của Ngô Đình Sơn (Quảng Bình) có dấu hiệu vi phạm Điều 226 BLHS về “tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet”.
Tuy nhiên, để khởi tố Sơn về tội danh này thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được Sơn đã “gây hậu quả nghiêm trọng” theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 8 Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTTT-VKSNDTC-TANDTC. Do hành vi câu view cho Facebook của mình bằng cách tung tin bịa đặt như trên không gây ra hậu quả nghiêm trọng theo quy định nên không có cơ sở để xử lý hình sự Sơn.
Ngoài ra, cũng không thể xử lý Sơn về tội vu khống theo Điều 122 BLHS hay tội làm nhục người khác theo Điều 121 BLHS vì trường hợp của Sơn không nhắm đến bất cứ ai, không có mục đích vu khống, làm nhục ai mà chỉ bịa đặt để mình được “nổi tiếng”.
Vì vậy hành vi của Sơn chỉ có thể bị xử phạt hành chính từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng theo điểm d khoản 2 Điều 64 Nghị định 174/2013. Đó là: “Miêu tả tỉ mỉ hành động dâm ô, chém, giết, tai nạn rùng rợn trong các tin, bài, phim, ảnh”.
H.TÚ ghi
Ngày 27-2, Thiếu tá Vũ Văn Nhiệm, Trưởng Công an phường Tân Hiệp (TP Biên Hòa, Đồng Nai), cho biết đã xác định nguyên nhân dẫn đến vụ việc nhóm nữ sinh đánh hội đồng một cô gái trẻ ở ngay phía sau sân vận động Đồng Nai (thuộc khu phố 4, phường Tân Hiệp) vào chiều 22-2.
Bước đầu cơ quan chức năng xác định nguyên nhân dẫn đến sự việc trên là do giữa O. và chị T. xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau trên  Facebook. Sau đó hai người này hẹn gặp nhau ở khu vực sau sân vận động Đồng Nai để nói chuyện. O. đã rủ nhóm bạn của mình cùng xông vào đánh chị T. khiến nhiều người bức xúc. Vụ việc xảy ra ngay giữa chỗ đông người qua lại nên có người đã dùng điện thoại quay video clip toàn bộ cảnh nhóm nữ sinh O. cùng bạn xông vào đánh hội đồng chị T. rồi đưa lên mạng xã hội gây xôn xao dư luận.
V.Ngọc

9 tháng 1, 2014

Sưu tầm bài viết về mình: Lời khai chấn động của Dương Chí Dũng: Chưa có tiền lệ khởi tố vụ án tại tòa?

Trong phiên tòa sơ thẩm TAND TP.Hà Nội xét xử ông Dương Tự Trọng và các đồng phạm can tội tổ chức cho Dương Chí Dũng trốn đi nước ngoài, diễn ra vào ngày 7 và 8.1, HĐXX đã ra quyết định khởi tố vụ án ngay tại tòa về hành vi “cố ý làm lộ bí mật Nhà nước”.  

  
Bị cáo Dương Tự Trọng (giữa, hàng đầu) và các bị cáo tại tòa - Ảnh chụp màn hình
Vụ việc làm xôn xao dư luận vì việc HĐXX ra quyết định khởi tố vụ án gần như rất hiếm khi xảy ra. Và lời khai của Dương Chí Dũng tại phiên tòa, có phải là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự không? Thanh Niên Online đã trao đổi với các luật sư về sự kiện gần như chưa có tiền lệ trong thực tiễn xét xử này.
Khởi tố tại tòa là đúng luật

Tại tòa Dương Chí Dũng khẳng định sau khi được ông Phạm Quý Ngọ thông báo việc sẽ bị khởi tố và bắt tạm giam, Dũng đã được các bị cáo khác giúp bỏ trốn khỏi Việt Nam theo lộ trình Hà Nội - Quảng Ninh - TP.HCM - Mộc Bài (Tây Ninh) - Campuchia. Từ lời khai của Dương Chí Dũng nói trên, đại diện Viện KSND giữ quyền công tố tại tòa đã đề nghị HĐXX khởi tố vụ án về hành vi “cố ý làm lộ bí mật Nhà nước”.

Và trong bản án ngày 8.1.2014, HĐXX đã tuyên xét thấy có dấu hiệu và cần thiết phải khởi tố vụ án hình sự về hành vi làm lộ bí mật Nhà nước và giao cho Viện KSND TP.Hà Nội tổ chức báo cáo với Viện KSND tối cao để xử lý theo quy định của pháp luật.
Vậy, lời khai của Dương Chí Dũng tại phiên tòa, có phải là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự không?
Luật sư Hồ Ngọc Diệp (đoàn luật sư TP.HCM) cho biết lời khai của Dương Chí Dũng là một trong những căn cứ để HĐXX quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại khoản 1, Điều 100 Bộ luật Tố tụng Hình sự vì đó là tố giác của công dân.
Song song đó, luật sư Nguyễn Đức Chánh (Đoàn luật sư TP.HCM) phân tích: Việc HĐXX quyết định khởi tố vụ án hình sự là hoàn toàn đúng luật, đồng thời thể hiện tinh thần trách nhiệm của mình. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003: “…HĐXX ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện KSND khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra”.
Chưa từng có trường hợp cơ quan xét xử khởi tố tại tòa

Đánh giá quy định này, Luật sư Hà Hải (Đoàn luật sư TP.HCM) cho biết, pháp luật trao cho tòa án thẩm quyền khởi tố vụ án nhưng thực tiễn xét xử chưa từng có trường hợp cơ quan xét xử khởi tố tại tòa.

 
Trong suốt một thời gian dài thẩm quyền khởi tố của tòa chưa phát huy tác dụng trong công cuộc phòng chống tội phạm đến nỗi đã có nhiều ý kiến đề nghị bỏ việc giao cho tòa thẩm quyền quyền khởi tố vụ án hình sự. Đối với vụ án này, việc tòa ra quyết định khởi tố ngay tại tòa cho thấy sự cương quyết trong đấu tranh phòng chống tội phạm của Nhà nước ta
 Luật sư Hà Hải, Đoàn luật sư TP.HCM
Thường thấy, khi xuất hiện tình tiết mới tại tòa cho thấy có dấu hiệu lọt người, lọt tội thì HĐXX thường trả hồ sơ để cho cơ quan điều tra điều tra hoặc đề nghị Viện KSND, cơ quan điều tra cùng cấp khởi tố ai đó. Nếu các cơ quan này vẫn giữ nguyên quan điểm không khởi tố mà tòa vẫn đánh giá lọt người, lọt tội thì tiếp tục kiến nghị trong bản án lên cấp cao hơn làm rõ.
“Trong suốt một thời gian dài thẩm quyền khởi tố của tòa chưa phát huy tác dụng trong công cuộc phòng chống tội phạm đến nỗi đã có nhiều ý kiến đề nghị bỏ việc giao cho tòa thẩm quyền quyền khởi tố vụ án hình sự. Đối với vụ án này, việc tòa ra quyết định khởi tố ngay tại tòa cho thấy sự cương quyết trong đấu tranh phòng chống tội phạm của Nhà nước ta”, luật sư Hà Hải nói.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện nay, sau khi khởi tố vụ án, trong thời hạn 24 giờ, HĐXX phải gửi quyết định khởi tố vụ án tới Viện KSND để xem xét, quyết định việc điều tra. Thẩm quyền điều tra về hành vi làm lộ bí mật Nhà nước thuộc cơ quan điều tra - Viện KSND Tối cao. Nếu điều tra xác định được đối tượng vi phạm và thấy có dấu hiệu của tội phạm thì khi đó cơ quan điều tra mới khởi tố bị can.
Trong trường hợp này, theo luật sư Hồ Ngọc Diệp (Đoàn luật sư TP.HCM), lời khai của Dương Chí Dũng tại phiên tòa được xem là tình tiết giảm nhẹ mới trong phiên xử phúc thẩm đối với vụ án tham ô và cố ý làm trái sắp tới theo tinh thần quy định tại Điều 46 Bộ luật Hình sự với tình tiết “người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện và điều tra tội phạm”.
“Hành vi tích cực giúp đỡ trong trường hợp này, được hiểu là người phạm tội đã cung cấp những tin tức, tài liệu, bằng chứng có ý nghĩa quan trọng cho việc phát hiện và điều tra tội phạm. Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết này, phụ thuộc vào giá trị của những tin tức mà người phạm tội đã cung cấp”, luật sư Diệp nêu.
Nếu lời khai của Dương Chí Dũng sai sự thật sẽ bị xử lý ra sao?
Trao đổi với Thanh Niên Online, luật sư Nguyễn Đức Chánh cho rằng không loại trừ khả năng sau khi tiến hành điều tra, nếu cơ quan điều tra không có chứng cứ hoặc không chứng minh được việc ông Phạm Quý Ngọ có phải là người để lộ thông tin mật cũng như không xác định được ai là người để lộ thông tin mật thì căn cứ vào khoản 1 Điều 107 Bộ luật Tố tụng Hình sự để đình chỉ vụ án và khoản 1 Điều 108 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án. Lúc này, ông Dương Chí Dũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật” theo Điều 307 Bộ luật Hình sự.
Lê Quang
Nguồn: thanhnien.com.vn

2 tháng 1, 2014

Sưu tầm bài viết về mình: Xử phạt báo chí nên quy về một mối

Liên quan đến câu chuyện nhiều cơ quan cùng được phạt báo chí và đại diện Bộ Tư pháp cho rằng cơ quan nào “nhanh chân” hơn thì được xử phạt, đã bị phản ứng từ nhiều chuyên gia pháp luật.

 
Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết (nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội): Ai cũng phạt thì lộn xộn quá
Bất cứ tổ chức cá nhân nào trong một đất nước cũng phải chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật, sai về điều gì thì bị phạt về cái đó, điều này thể hiện mọi tổ chức cá nhân bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên phải có sự thống nhất giữa cơ quan chứ không thể có chuyện mạnh ai nấy làm, ai nhanh hơn thì được phạt. Bộ Thông tin - Truyền thông là cơ quan quản lý về hoạt động báo chí xuất bản, nếu thanh tra các ngành khác phát hiện báo chí vi phạm thì có quyền đề nghị Bộ Thông tin - Truyền thông xem xét và xử phạt chứ không thể nào nhảy vào xử phạt ngay. Như thế là lộn xộn quá, không có sự thống nhất về mặt nhà nước. 
 
Từ câu chuyện của báo chí tôi muốn nói rộng hơn, hiện nay chỉ có ở nước ta và một số ít nước có chuyện các cơ quan hành chính được xử phạt tiền cá nhân và tổ chức. Ở các nước phát triển thì các cơ quan hành chính chỉ có quyền đề xuất, còn việc phạt hay không là thẩm quyền của tòa án, quy về một đầu mối. Điều này tạo ra sự thống nhất, không giẫm chân lên nhau. Trước đây, chúng ta làm luật Sở hữu trí tuệ, các chuyên gia của Anh, Mỹ rất sửng sốt ngạc nhiên hỏi làm sao mà Bộ Khoa học - Công nghệ cũng có thể ra quyết định xử phạt.
Bên cạnh việc chồng chéo về thẩm quyền của các cơ quan chức năng, thì trong các nghị định hiện nay cũng có sự vênh nhau nhất định khi điều chỉnh cùng một hành vi. Theo quy định của luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nếu hai văn bản do một cơ quan ban hành có sự vênh, mâu thuẫn với nhau thì áp dụng theo văn bản ban hành sau. Thế nhưng, với các nghị định của Chính phủ cùng điều chỉnh các hành vi của báo chí, trong đó có một số hành vi rất khó để phân định áp dụng theo nghị định nào, do đó khi áp dụng sẽ gây ra tranh cãi. Giữa cả một “rừng luật” như thế không biết theo luật nào cho đúng.
Thạc sĩ, luật sư Phạm Văn Phất (Đoàn luật sư Hà Nội): Chuyên gia Bộ Tư pháp hiểu sai
Đối với mỗi sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật được phát hiện, nếu chỉ giải quyết vấn đề bằng cách tìm sự giải thích từ các chuyên gia trực tiếp liên quan đến việc xây dựng văn bản thì dễ thấy mỗi chuyên gia có thể có một cách giải thích khác nhau.
Chẳng hạn, tại cuộc họp với báo chí của Bộ Tư pháp, bà Phạm Thị Kim Thoa, Vụ trưởng Vụ Pháp luật hình sự - hành chính thì phân tích: “Việc đưa tin không trung thực quy định tại Nghị định 159/3013/NĐ-CP chưa rõ”, trong khi ông Đặng Thanh Sơn - Tổ trưởng Tổ triển khai đề án về xử lý vi phạm hành chính thì cho rằng: “Từ 130 nghị định bây giờ Chính phủ rút xuống còn 50 nghị định. Số lượng hành vi quy định trong mỗi lĩnh vực trong đó có báo chí lên đến mấy trăm ngàn hành vi cho nên có thể có sự trùng lặp, quy định ở lĩnh vực này và nó có thể nằm ở lĩnh vực khác là có thể xảy ra”. Ông Sơn cũng dẫn ra điều 52 của luật Xử lý vi phạm hành chính về nguyên tắc xác định quyền xử phạt hành chính: “Trong trường hợp có nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền xử phạt thì cơ quan nào thụ lý đầu tiên, cơ quan đó có quyền xử phạt”. Có lẽ, những người trực tiếp ra quyết định xử phạt sẽ còn nghĩ ra nhiều cách giải thích mà không ai có thể khiếu nại được, kiểu như: "Chúng tôi đã áp dụng đúng quy định”.
Theo chúng tôi, đã phát hiện ra mâu thuẫn, chồng chéo là buộc phải sửa đổi cho đảm bảo tính thống nhất của văn bản pháp luật. Không thể lấy lý do rút số lượng nghị định từ 130 xuống 50 hay do có quá nhiều hành vi để buộc các đối tượng điều chỉnh của các quy định này phải chịu đựng sự mâu thuẫn, chồng chéo, giải thích tùy tiện của quan chức nhà nước.
Ngoài ra, sự giải thích của các chuyên gia Bộ Tư pháp được trích dẫn ở trên cũng chưa đúng với tinh thần của chính các nghị định liên quan. Theo chúng tôi, nguyên tắc “trong trường hợp có nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền xử phạt thì cơ quan nào thụ lý đầu tiên, cơ quan đó có quyền xử phạt” được ông Sơn trích dẫn cũng không đúng hoàn cảnh bởi lẽ, trường hợp có nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền xử phạt nêu tại điều 52 luật Xử lý vi phạm hành chính chỉ áp dụng đối với một vi phạm hành chính được quy định tại một nghị định cụ thể chứ không phải nguyên tắc này được đưa ra để giải quyết cho sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật (nghị định) khác nhau.
Thái Sơn - Hoàng Trang (ghi)
 
Luật sư Nguyễn Đức Chánh (Đoàn luật sư TP.HCM): Không có quy định nào về việc “nhanh chân” thì được xử
Ý kiến của ông Sơn cho thấy sự “bất lực” và là giải pháp tình thế để tránh việc vi phạm nguyên tắc xử phạt hành chính là: “Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần”.
Trong khi đó không có quy định nào về việc cơ quan nào “nhanh chân hơn” thì được xử phạt, còn cơ quan nào “chậm chân hơn” thì không có quyền, dù đó là cơ quan chuyên môn như Bộ Thông tin - Truyền thông.
Luật sư Phạm Công Út (Đoàn luật sư TP.HCM): Giật mình vì sự tùy tiện giải thích pháp luật
Nghe trả lời phỏng vấn trước báo giới của ông Đặng Thanh Sơn mà không khỏi giật mình vì sự tùy tiện trong cách giải thích pháp luật. Pháp luật vốn là một thể thống nhất điều chỉnh các quan hệ xã hội, tính hiệu lực của pháp luật được định theo thứ tự giá trị văn bản pháp luật, thời điểm ban hành pháp luật…
Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải có trách nhiệm rà soát tính hiệu lực của các văn bản pháp luật đã được ban hành trước đó để tránh sự chồng chéo, giẫm chân lên nhau như một đội quân hỗn loạn. Do đó, sự khiếm khuyết của các văn bản quy định cho phép các cơ quan độc lập nhau lại được quyền cùng "trảm" báo chí theo mức phạt của mình có khác nào một cảnh chợ vỡ mà lẽ ra, nếu có trách nhiệm hơn thì phải tạm dừng việc xử phạt vô tội vạ và nhanh chóng sửa chữa hoặc bãi bỏ những quy định chồng chéo của các văn bản này.
Lê Nga (ghi)
Nguồn: thanhnien.com.vn

30 tháng 12, 2013

Sưu tầm bài viết về mình: Thụ tinh từ tinh trùng của người đã chết: Phức tạp về pháp lý

Luật chưa điều chỉnh việc xác định cha và quyền thừa kế trong trường hợp này. Có thể thụ tinh từ trứng của người đã chết?


Việc chị Hoàng Thị Kim Dung (Hà Nội) sinh hai bé trai ngày 9-12 bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm từ tinh trùng của người cha đã mất bốn năm trước trong một tai nạn giao thông được xem là trường hợp đầu tiên tại Việt Nam. Từ đó cũng đã đặt ra nhiều vấn đề pháp lý thú vị.

Trường hợp đầu tiên tại Việt Nam

TS-BS Lê Vương Văn Vệ, Giám đốc BV Nam học và Hiếm muộn Hà Nội, người thực hiện lưu trữ tinh trùng và thụ tinh ống nghiệm cho chị Hoàng Thị Kim Dung, cho biết về mặt kỹ thuật thì lưu trữ tinh trùng không phải là một kỹ thuật khó, cũng không còn xa lạ ở Việt Nam. “Tuy nhiên, bảo quản tinh trùng từ người chết và sau đó thụ tinh trong ống nghiệm thì trường hợp của chị Dung là đầu tiên tại Việt Nam. Đặc biệt, trường hợp này rất may mắn khi thành công ngay từ lần thụ tinh đầu tiên. Kết quả xét nghiệm AND chứng minh 99,99% hai cháu bé là con của anh Ngọc và chị Dung” - BS Vệ nói.
Theo BS Vệ, thế giới chưa có thống kê đầy đủ các trường hợp mang thai từ tinh trùng người đã mất. Qua tìm hiểu của ông thì không nhiều lắm, có một trường hợp ở Mỹ, tuy nhiên phải đến lần thứ hai thì ca thụ tinh mới thành công. “Khi một người bị tai nạn hoặc chết đột tử, người thân họ muốn lưu giữ tinh trùng để thụ tinh trong ống nghiệm thì hiện chưa có một quy định nào để cá nhân tôi cũng như giới y khoa có thể thực hiện phù hợp với truyền thống đạo đức xã hội, nhân văn và đúng pháp luật” - BS Vệ bày tỏ.


TS-BS Lê Vương Văn Vệ, chị Dung và hai cháu bé ra đời từ tinh trùng của người bố đã qua đời bốn năm trước. Ảnh: HUY HÀ

Theo BS Hồ Mạnh Tường, Tổng Thư ký Hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP.HCM, để lấy tinh trùng từ tinh hoàn người mới mất, thời gian khuyến cáo là trong vòng 24 giờ (cá biệt, có thể trong vòng 36 giờ). Nếu tinh trùng lấy ra còn sống, có thể lưu trữ được trong vòng nhiều năm. Trên nguyên tắc, không có giới hạn về tuổi người mất. Tuy nhiên, tuổi càng lớn thì chất lượng tinh trùng càng giảm.

Theo BS Tường, việc lấy tinh trùng và lưu trữ tinh trùng từ người đã chết về kỹ thuật thì khá đơn giản, hầu hết các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm ở Việt Nam đều có thể thực hiện được. Tuy nhiên, về pháp lý và y đức, đây là vấn đề đã được tranh luận rất nhiều trên thế giới. Hầu hết các nước trên thế giới không ủng hộ hoặc cấm việc lấy tinh trùng từ người chết nếu người này không có cam kết bằng văn bản đồng ý trước đó. “Theo tôi, đó cũng là lý do mà trước nay ít có bệnh viện nào ở Việt Nam thực hiện kỹ thuật này” - BS Tường nói.

Luật sư Nguyễn Đức Chánh, Đoàn Luật sư TP.HCM, đến thời điểm hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định nào về việc lấy tinh trùng người chết để thụ tinh nhân tạo, giống trường hợp của chị Dung. Trên thế giới, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cả pháp lý và đạo đức về việc người còn sống là vợ (hoặc người yêu) lấy tinh trùng của người chết để lưu trữ, thụ tinh trong ống nghiệm. Vì người có tinh trùng đã mất nên không thể hiện được ý chí đồng ý hay không đồng ý việc cho lưu trữ và thụ tinh từ tinh trùng của họ.

Lỗ hổng pháp lý trong việc xác nhận cha và thừa kế

Theo luật sư Nguyễn Đức Chánh, sự kiện trên đồng thời cho thấy lỗ hổng pháp lý về việc xác định con chung và người thừa kế.

Thứ nhất, về mặt con chung, theo quy định ở Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 về xác định cha, mẹ: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng”. Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 21 Nghị định 70/2001 về xác định con chung của vợ chồng: “Con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết… thì được xác định là con chung của hai người”. Tuy nhiên, trong trường hợp này, hai cháu bé sinh ra sau hơn bốn năm kể từ ngày cha các cháu mất, như vậy chiếu theo những quy định trên thì không được coi là con chung trong thời kỳ hôn nhân. Muốn xác định cha cho hai cháu bé thì phải làm thủ tục nhận cha rồi mới ghi tên cha trên giấy khai sinh.

Thứ hai, về người thừa kế, theo Điều 635 Bộ Luật dân sự 2005, người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết… Như vậy, tại thời điểm chồng chị Dung chết, hai cháu bé chưa thành thai nên không được xác định là người thừa kế của chồng chị Dung.

Hiện tại, pháp luật Việt Nam cũng không cấm việc các bác sĩ hoặc cơ sở y tế thực hiện lấy tinh trùng hoặc trứng để trữ lạnh và thụ tinh sau này. Tuy nhiên, cũng không có hành lang pháp lý nào để đảm bảo việc thực hiện này. Vì vậy, tất cả vấn đề này pháp luật phải sửa đổi, bổ sung để tiên liệu và điều chỉnh cho những quan hệ phát sinh sau này.
Có thể thụ tinh từ trứng của người đã chết?
Đối với người chết là nữ, hiện chưa có nghiên cứu về lấy buồng trứng ở người chết. Tuy nhiên, nếu thực hiện thì cần càng sớm càng tốt vì noãn nhạy cảm hơn tinh trùng rất nhiều. Phải trữ lạnh mô buồng trứng, trên nguyên tắc, có thể trữ trong vòng nhiều năm. Tuy nhiên, hiệu quả của trữ lạnh mô buồng trứng hiện nay còn rất thấp.

Chỉ nên trữ buồng trứng ở những người không quá 35 tuổi. TP.HCM cũng chưa thực hiện việc lấy trứng từ người đã mất vì vấn đề kỹ thuật, pháp lý và y đức phức tạp hơn nhiều so với tinh trùng.

BS HỒ MẠNH TƯỜNGTổng Thư ký Hội Nội tiết sinh sản
và vô sinh TP.HCM
HUY HÀ - TRẦN NGỌC

Sưu tầm bài viết về mình: Có quyền nhân thân, không có quyền thừa kế từ cha

Sự kiện hai bé trai sinh đôi (tại Hà Nội) vừa chào đời nặng 2,4 kg và 2,6 kg là kết quả của ca thụ tinh trong ống nghiệm từ tinh trùng của người bố được bảo quản sau 3 năm lấy từ tử thi là thành tựu của y học Việt Nam. Đây là vấn đề khá hi hữu vì người chồng mất đã 3 năm.



Số ca sinh đôi đang tăng mạnh do liệu pháp điều trị vô sinh - Ảnh: Wingwire.com
Nhiều bạn đọc thắc mắc về vấn đề khai sinh, quyền nhân thân của hai đứa trẻ sinh ra từ ống nghiệm.
Trao đổi về vấn đề này, luật sư Nguyễn Đức Chánh (Đoàn luật sư TP.HCM) phân tích: Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 về xác định cha, mẹ quy định con chung của vợ chồng là con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ mang thai trong thời kỳ hôn nhân; con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng. Điều 21 Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03.10.2001 của Chính phủ về xác định con chung của vợ chồng còn có quy định: Con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật, thì được xác định là con chung của hai người.
Theo luật sư Chánh, chiếu theo quy định trên, trường hợp 2 cháu bé được sinh ra sau hơn 3 năm kể từ ngày cha các cháu chết, thì không được xem là con chung của người phụ nữ đó và người chồng quá cố. Mặc dù, trên thực tế 2 cháu bé này là “sản phẩm” của vợ chồng chị ấy. Đây chính là vấn đề mà pháp luật Hôn nhân Gia đình và Nghị định hướng dẫn chưa dự liệu tới và không điều chỉnh kịp theo sự phát triển của khoa học, y học.
 
"Tóm lại, ở trường hợp đặc biệt này hai trẻ được sinh ra từ chính tinh trùng của cha mình về nhân thân không phải là điều đáng lo ngại (như việc khai sinh ghi tên cha) và chỉ bị hạn chế bởi duy nhất một quyền là quyền thừa kế mà thôi, còn các quyền dân sự khác đều bình thường như một công dân bình thường (nếu không bị hạn chế)", luật sư Trạch nói.
Trong khi đó, luật sư Nguyễn Hữu Thế Trạch (Đoàn luật sư TP.HCM) lại cho rằng vấn đề khai sinh cho hai cháu bé không khó. Theo luật sư Trạch, Nghị định 12/2003/NĐ-CP ngày 12.2.2003 có quy định về những trường hợp trẻ sinh ra trong ống nghiệm.
Cụ thể là tại Chương V, Điều 20, khoản 1 ghi: “Trẻ ra đời do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc thân”.
Trong trường hợp này, 2 bé trai sinh đôi tại Hà Nội được sinh ra từ chính người mẹ của mình. Tại khoản 2 quy định “Những người theo quy định tại khoản 1 Điều này được xác định là cha, mẹ đối với trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”. Nhưng tại Điều 3 của Nghị định có giải thích về thụ tinh nhân tạo là thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi. Ở đây, khi người chồng bị tai nạn giao thông thì cả hai vợ chồng đều chưa có con. Do đó, người vợ đã nhờ các bác sĩ chuyên khoa thực hiện việc lấy và lưu trữ tinh hoàn của người chồng lại để thực hiện việc sinh con bằng sự hỗ trợ của khoa học - phương pháp thụ tinh nhân tạo. Pháp luật cũng không cấm việc sử dụng tinh trùng của người đã chết nên trong trường hợp này, người mẹ hoàn toàn có thể sinh con theo phương pháp khoa học này. Vậy, căn cứ vào Nghị định 12/2003 thì 2 con trai được sinh ra đều có nhân thân từ chính noãn và tinh trùng của cha mẹ mình.
"Theo tôi nghĩ, người mẹ hoàn toàn có khả năng đăng ký khai sinh và ghi tên cha cho con là người chồng đã mất. Người vợ có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh hai trẻ sinh ra từ tinh trùng của người chồng đã mất, thông qua xác nhận của cơ sở y tế thực hiện ca thụ tinh trong ống nghiệm, chứng tử, giấy đăng ký kết hôn", luật sư Trạch phân tích.
Còn về vấn đề thừa kế, luật sư Trạch và luật sư Chánh có cùng quan điểm khi cho rằng hai trẻ không có quyền về thừa kế.
Cụ thể, Nghị định 12/2003 quy định: “Con được sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không được quyền yêu cầu quyền thừa kế, quyền được nuôi dưỡng đối với người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi (Điều 21)".
Bên cạnh đó, tại Điều 635 BLDS quy định về người thừa kế: “Người thừa kế phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết…”.
Như vậy, về thừa kế 2 người con này chỉ được hưởng thừa kế từ chính người mẹ của mình mà thôi.
Lê Quang
Nguồn: thanhnien.com.vn

23 tháng 12, 2013

Sưu tầm bài viết về mình: Ai cũng được phạt báo chí?

Quy định cho phép hàng loạt cấp, ngành được xử phạt báo chí đưa tin sai sự thật đang phá vỡ tính thống nhất về lãnh đạo và quản lý báo chí, gây rối rắm, bất khả thi và chồng chéo về thẩm quyền xử phạt...


Phóng viên tác nghiệp - Ảnh: Ngọc Thắng
Cơ quan nào cũng phạt báo chí (!?)
Ngày 19.7.2013, Nghị định 79/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực thống kê (có hiệu lực thi hành từ 5.9.2013) tại điều 13, Vi phạm quy định về phổ biến thông tin thống kê quy định: “...Phạt tiền từ trên 20 - 30 triệu đồng đối với hành vi phổ biến thông tin thống kê sai sự thật và buộc cải chính thông tin thống kê sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đã phổ biến”. Tại điều 14 Vi phạm quy định về sử dụng thông tin thống kê: “Cảnh cáo đối với hành vi không ghi rõ nguồn gốc của thông tin thống kê khi phổ biến, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các ấn phẩm. Phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với hành vi trích dẫn không đúng nguồn gốc thông tin thống kê khi phổ biến, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các ấn phẩm. Phạt tiền từ trên 10 - 20 triệu đồng đối với hành vi làm sai lệch các thông tin thống kê đã được cơ quan có thẩm quyền công bố để phổ biến, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các ấn phẩm...”.
Tiếp đó, Nghị định 109/2013/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn ngày 24.9.2013 (có hiệu lực từ 9.11.2013) của Chính phủ tại điều 14 cũng quy định: “Phạt tiền từ 10 - 15 triệu đồng đối với hành vi bịa đặt, loan tin, đưa tin không đúng sự thật về tình hình thị trường, giá cả hàng hóa, dịch vụ gây tâm lý hoang mang trong xã hội và bất ổn thị trường. Phạt tiền từ 75 - 100 triệu đồng đối với hành vi trên nếu đăng tải phương tiện thông tin đại chúng như báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các ấn phẩm thông tin khác”.
Gần đây, Nghị định 138/2013/NĐ-CP ngày 22.10.2013 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giáo dục (có hiệu lực có hiệu lực từ 10.12.2013) cũng có quy định phạt tiền từ 3 - 6 triệu đồng đối với hành vi thông tin sai sự thật về kỳ thi.
Chưa hết, ngày 13.11.2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 173/2013/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ có hiệu lực từ 1.1.2014 cũng quy định phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng nếu đưa tin dự báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ trên các phương tiện thông tin đại chúng mà không nêu nguồn gốc cấp tin; phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với hành vi như: Đưa tin dự báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ trên các phương tiện thông tin đại chúng không đúng quy định; làm sai lệch nội dung bản tin dự báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ do cơ quan có thẩm quyền cung cấp. Trường hợp làm sai lệch nội dung bản tin dự báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ do cơ quan có thẩm quyền cung cấp gây hậu quả nghiêm trọng chịu mức phạt từ 40-50 triệu đồng.
 
Các ngành có thể ra quy định xử phạt nhưng chỉ xử phạt trong lĩnh vực mình quản lý. Chẳng hạn, thuế có quyền phạt báo chí nếu vi phạm các quy định về thuế như khai báo thuế không đúng quy định, mất hóa đơn... chứ không thể nhảy sang phạt báo chí đưa tin sai sự thật
Luật sư Hà Hải (Đoàn luật sư TP.HCM)
Chủ tịch xã cũng có quyền xử phạt báo chí !
Từ các văn bản nêu trên cho thấy, có rất nhiều cơ quan có "quyền" phạt báo chí. Chẳng hạn, trong lĩnh vực giáo dục, người có thẩm quyền xử phạt là chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (có quyền phạt đến 5 triệu đồng, điểm b, khoản 1, điều 28, Nghị định 138) đến quận, huyện, thị xã, TP thuộc tỉnh và tỉnh, TP trực thuộc T.Ư; Thanh tra viên đang thi hành công vụ, Chánh thanh tra Sở GD-ĐT, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp bộ; Chánh thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ... (điều 29, Nghị định 138) cũng có quyền xử phạt.
Trong lĩnh vực thống kê, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc về chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện. Ngoài ra, người có quyền phạt còn có: Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh, TP trực thuộc T.Ư; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Bộ Kế hoạch - Đầu tư; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Tổng cục Thống kê; Chánh thanh tra Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, Trưởng đoàn thanh tra Cục Thống kê tỉnh, TP trực thuộc T.Ư (điều 18, Nghị định 79).
Các văn bản chuyên ngành khác như trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn; Khí tượng thủy văn... cũng quy định chi tiết về các cơ quan có thẩm quyền xử phạt.
Trong khi đó, Nghị định 02/2011/NĐ-CP quy định xử phạt VPHC trong hoạt động báo chí, xuất bản; Nghị định 159/2013/NĐ-CP thay thế Nghị định 02 nói trên từ 1.1.2014, quy định thẩm quyền xử phạt báo chí thuộc thanh tra chuyên ngành thông tin - truyền thông; Chánh thanh tra Sở Thông tin - Truyền thông; Chánh thanh tra Bộ Thông tin - Truyền thông, và chủ tịch UBND cấp huyện trở lên...
Rối rắm, chồng chéo
Hiện nay, hành vi tác nghiệp của phóng viên, xuất bản... vi phạm pháp luật đã có Nghị định 02/2011. Đặc biệt, Nghị định 159/2013/NĐ-CP thay thế Nghị định 02 nói trên từ 1.1.2014. Như vậy, chỉ còn ít ngày nữa Nghị định 159 sẽ có hiệu lực song hành với các nghị định chuyên ngành trong lĩnh vực khác cùng xử phạt báo chí. Nghị định 159 có 4 chương, 38 điều với 13 điều quy định về mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm về nội dung thông tin sai sự thật, không dẫn nguồn, minh họa, rút tít không phù hợp; về sử dụng thẻ; cung cấp, sử dụng thông tin của cơ quan báo chí; cải chính... Nói chung tất tần tật hành vi liên quan đến hoạt động báo chí (của cá nhân và tổ chức), xuất bản... đều bị nhắc đến và xử phạt nhẹ nhất là cảnh cáo và nặng nhất là phạt tiền đến 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức.
Trong khi đó, điều 1, khoản 3 Nghị định 159 quy định: “Các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến hoạt động báo chí, xuất bản không quy định tại nghị định này mà quy định tại các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước khác thì áp dụng các quy định đó để xử phạt”. Luật sư Phạm Công Út phân tích: Điều này, có nghĩa là chỉ những hành vi nào mà Nghị định 159 không quy định thì các nghị định khác mới được bổ sung, đưa vào để xử phạt. Phù hợp với quy định tại điều 3 luật Xử phạt vi phạm hành chính về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính: “Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần”.
Cụ thể, điều 8, Nghị định 159 đã quy định đầy đủ các hành vi: Không viện dẫn nguồn tin hoặc viện dẫn sai nguồn tin khi đăng, phát trên báo chí; Đăng, phát thông tin sai sự thật, đăng, phát thông tin xuyên tạc, vu khống... với những mức phạt rất cụ thể. “Tuy nhiên, các nghị định nói trên vẫn áp vào để xử phạt là trái với khoản 1, điều 3 nghị định 159 và các văn bản quy định về xử phạt trong hoạt động báo chí đang giẫm chân lên nhau”, luật sư Út nói.
Ai có quyền kết luận đúng sai ?
Trao đổi với Thanh Niên, luật sư Nguyễn Đức Chánh (Đoàn luật sư TP.HCM) cho rằng, để xử phạt hành chính thì các cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh hành vi vi phạm. “Vậy căn cứ vào đâu để các cơ quan, tổ chức cho rằng hành vi, bài viết, bài báo đó vi phạm hành chính? Ai có quyền kết luận đúng sai? Như vậy, có thể có tình trạng bị xử phạt oan và xảy ra tình trạng khiếu kiện về sau”, luật sư Chánh phân tích. Ông cũng nhìn nhận: “Chưa có hoạt động nào mà bị nhiều ngành xử phạt hành chính như lĩnh vực hoạt động báo chí. Vì vậy, cần thống nhất lại các quy định xử phạt để tránh chồng chéo, mâu thuẫn nhau”.
Cùng quan điểm, luật sư Phạm Công Út cho rằng điều 8, Nghị định 159 đã quy định đầy đủ các hành vi: Không viện dẫn nguồn tin hoặc viện dẫn sai nguồn tin khi đăng, phát trên báo chí; đăng, phát thông tin sai sự thật; đăng, phát thông tin xuyên tạc, vu khống... với những mức phạt rất cụ thể. Nhưng các nghị định khác vẫn áp vào để xử phạt là trái với khoản 1, điều 3 Nghị định 159. “Các văn bản quy định về xử phạt trong hoạt động báo chí đang giẫm chân lên nhau”, luật sư Út nói.
Luật sư Hà Hải (Đoàn luật sư TP.HCM) phân tích thêm: “Các nghị định xử phạt vi phạm hành chính ban hành phải tuân thủ luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, các ngành có thể ra quy định xử phạt nhưng chỉ xử phạt trong lĩnh vực mình quản lý. Chẳng hạn, thuế có quyền phạt báo chí nếu vi phạm các quy định về thuế như khai báo thuế không đúng quy định, mất hóa đơn... chứ không thể nhảy sang phạt báo chí đưa tin sai sự thật”.
Luật sư Nguyễn Thành Công (Đoàn luật sư TP.HCM) cho rằng những quy định như thế cho thấy sự khập khiễng, chồng lấn, không chuyên nghiệp. Dẫn đến tình trạng khi có hành vi vi phạm xảy ra sẽ có tranh chấp, bên “đòi” xử nhẹ, bên muốn “áp” xử nặng và không biết xử theo “luật” nào. Chia sẻ quan điểm này, luật sư Hà Hải đề nghị cần thống nhất về một đầu mối xử phạt. “Nếu ngành ngành ra văn bản xử phạt, mỗi nơi mỗi kiểu thì pháp luật không đi vào cuộc sống”, ông Hải nói.
Không đúng thẩm quyền
Bình luận xung quanh vấn đề này, ông Nguyễn Văn Hùng - Chánh thanh tra Bộ Thông tin - Truyền thông (TT-TT) cho biết:
Thời gian qua Chính phủ đã có một chủ trương hợp lý là yêu cầu các bộ ngành “rút gọn” các quy định xử phạt hành chính liên quan đến lĩnh vực mà bộ, ngành đó quản lý vào tối đa 1 - 3 nghị định (do Chính phủ ban hành). Ví dụ trong lĩnh vực thông tin - truyền thông trước đây có khoảng 10 nghị định xử phạt thì nay gom lại còn 2 nghị định. Đây là chủ trương mà tất cả các bộ ngành đều phải thực hiện và tiến hành xây dựng lại các văn bản. Chủ trương cũng yêu cầu gom các quy định xử lý vi phạm liên quan các bộ, ngành khác nhau về một văn bản chung. Ví dụ Nghị định số 158/2013/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo do Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch chủ trì nhưng liên quan đến nhiều bộ, ngành khác.
Trong lĩnh vực báo chí xuất bản thì đã có Nghị định 159/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí xuất bản sẽ có hiệu lực từ 1.1.2014. Nghị định này cũng đã bao trùm tất cả các vấn đề liên quan các lĩnh vực khác. Trước đây, Thanh tra Bộ TT-TT cũng từng được một số bộ ngành mời tham gia hội đồng tư vấn, thẩm định các dự thảo văn bản xử phạt trong đó có liên quan đến báo chí. Đã nhiều lần, chúng tôi đề nghị các cơ quan ban hành văn bản không đưa vấn đề xử phạt báo chí vào vì như vậy là không đúng thẩm quyền. Các cơ quan này, trong đó có cả Bộ Công an, cũng đã đồng ý và rút các quy định đó ra.
Tuy nhiên do thực tế xây dựng văn bản pháp luật của chúng ta còn nhiều bất cập. Không phải lúc nào Bộ TT-TT cũng được tham vấn ý kiến nên đã xảy ra nhiều trường hợp văn bản được ban hành rồi thì mới phát hiện ra như những chồng chéo, bất hợp lý.
Xin ông cho biết quy trình xử phạt các sai phạm liên quan đến lĩnh vực báo chí - xuất bản hiện nay?
Các quyết định xử phạt của Thanh tra Bộ TT-TT sẽ được căn cứ trên nhiều nguồn. Đầu tiên là dựa trên các đề nghị từ các cơ quan chức năng của Bộ TT-TT như Cục Báo chí, Cục Quản lý truyền hình - phát thanh và thông tin điện tử... Các cơ quan này cũng lấy thông tin từ nhiều nguồn khác như trong đó có nguồn từ các bộ, ngành hoặc qua các kênh khác phản ánh đến các cơ quan quản lý báo chí. Bên cạnh đó cũng có nhiều vụ việc do Thanh tra Bộ TT-TT tự phát hiện và xử lý. Chúng tôi cũng tiếp nhận thông tin từ các cá nhân, tổ chức gửi đến. Sau khi thẩm tra các thông tin này, nếu chính xác thì cũng sẽ tiến hành xử lý.
Ông đánh giá thế nào về tính khả thi nghị định xử phạt của các ngành?
Cần phải xem xét cụ thể xem các nghị định khác xử phạt báo chí có gì vênh với Nghị định 159 hay không? Trong thẩm quyền của mình chúng tôi sẽ cố gắng trao đổi đề nghị các cơ quan liên quan phối hợp. Còn về nguyên tắc quản lý báo chí thì trách nhiệm thuộc Bộ TT-TT. Mức phạt chênh lệch nhau cũng không công bằng và hợp lý do cách đánh giá của mỗi bộ ngành có sự khác biệt. Trong khi cần có một khung phạt thống nhất.
Trường Sơn
Sẽ dẫn tới sự lạm dụng

Trao đổi với Thanh Niên, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Lê Như Tiến (ảnh) cho rằng: Việc xử lý vi phạm trong các lĩnh vực là điều rất cần thiết và không ngoại lệ với báo chí, thế nhưng để tránh chồng chéo, tùy tiện trong việc xử phạt vi phạm với báo chí, chỉ nên áp dụng theo quy định hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí, xuất bản. Nếu lĩnh vực nào, cơ quan nào cũng nhăm nhăm đòi xử phạt vi phạm của báo chí (chưa đề cập đến có vi phạm thực sự hay không), sẽ dẫn tới sự lạm dụng, chồng chéo, như chúng ta vẫn thường hay nói “thuế chồng lên thuế”, thì các quy định xử phạt báo chí trong các nghị định như câu hỏi đặt ra là “phạt chồng lên phạt”.
Tôi vẫn thường đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí là vừa quản lý tốt báo chí nhưng đồng thời cũng phải tạo điều kiện thuận lợi nhất để báo chí phát triển và hội nhập, chứ không nên nhăm nhăm chỉ dùng phanh, ngoài phanh cũng còn phải có ga, phanh là để ngăn ngừa, xử lý kịp thời khi báo chí vi phạm hoặc làm quá đà, còn ga là thúc đẩy để báo chí phát triển và hội nhập, hai cái này phải song hành, chứ không chỉ quan tâm nhiều đến xử phạt và đôi khi không tạo điều kiện để báo chí phát triển và hội nhập.
Nếu chúng ta quy định xử phạt báo chí nhiều quá hay lạm dụng quy định xử phạt báo chí sẽ vô hình trung cản trở tác nghiệp của báo chí. Báo chí cần có khoảng rộng để hoạt động, tác nghiệp, nếu đưa tin sai đã có luật Báo chí điều chỉnh, tổng biên tập phải chịu trách nhiệm và cá nhân nhà báo đưa tin sai cũng sẽ bị xử lý, xử phạt theo luật định.
Vậy với các quy định xử phạt báo chí trong nội dung các nghị định xử phạt vi phạm hành chính của các ngành đã được ban hành, Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội có yêu cầu làm rõ tính hợp lý, hợp pháp để tránh tình trạng chồng chéo như ông nói?
Theo quy định thì cơ quan giúp Chính phủ “gác cổng” các văn bản trước khi ban hành là Bộ Tư pháp. Thời gian qua, rất nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn thực thi các luật, pháp lệnh được ban hành theo soạn thảo, đề xuất từ các bộ ngành chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn rồi bị khai tử, trong đó có nhiều quy định rất phản cảm, không hợp lòng dân, khó khả thi, bị dư luận phản ứng, và Chính phủ cũng đã rất cầu thị sửa đổi.
Với các nghị định đã ban hành hoặc đang dự thảo liên quan đến xử phạt vi phạm báo chí cũng thế, nếu không hợp lý, hợp lệ thì các cơ quan soạn thảo, ban hành phải chủ động sửa đổi kịp thời cho phù hợp. Trong trường hợp các cơ quan ban hành không chủ động điều chỉnh, các ủy ban của Quốc hội được giao thẩm tra, thẩm định các lĩnh vực thuộc phạm vi phụ trách sẽ yêu cầu báo cáo lại, nếu thấy không hợp lý, hợp lệ, không đúng quy định của pháp luật, thậm chí là vi hiến, thì sẽ yêu cầu bãi bỏ hoặc sửa đổi lại cho phù hợp.
Bảo Cầm(thực hiện)
Lê Nga
Nguồn: thanhnien.com.vn

17 tháng 12, 2013

Sưu tầm bài viết về mình: Khó xử phạt hành vi 'cởi đồ khoe thân'?

Liên quan đến việc 7 thanh, thiếu niên tổ chức quay video clip Anh không đòi quà với nhân vật nữ chính cởi đồ phản cảm nơi công cộng, giới luật sư cho rằng khó có thể xử phạt.


Ảnh chụp lại từ video clip, thiếu nữ mặc đồ lót quay video clip tại Cần Thơ (trên) và phiên bản do một kênh truyền hình giải trí thực hiện 
Không chỉ ở Cần Thơ, việc “ăn theo” quay clip Anh không đòi quà để cởi đồ, khoe thân tung lên mạng ngày càng phố biến, diễn ra ở nhiều tỉnh thành. Nhân vật chính cởi đồ cũng có nhiều biến tướng hết nữ đến nam và thậm chí là cả trẻ con.
Điều mà dư luận bức xúc là việc một bộ phận giới trẻ xem đây là chuyện bình thường trong khi đại bộ phận dân chúng cho rằng hành động khoe thân, cởi đồ phản cảm nói trên đã vi phạm thuần phong mỹ tục. Tuy nhiên, hầu như không thấy chính quyền địa phương xử phạt dù việc quay clip phản cảm công khai trên đường phố.
Không những vậy, luật sư Nguyễn Đức Chánh (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết thêm hành vi ăn mặc hở hang, phản cảm tại địa điểm văn hóa, tín ngưỡng, nơi làm việc của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trên thực tế hầu như không bị cơ quan hay người có thẩm quyền nào ra quyết định xử phạt.
“Mức độ chỉ dừng lại ở việc bảo vệ nhắc nhở người ăn mặc phản cảm, hở hang và không cho họ vào trong các địa điểm này”, luật sư Chánh nói.
Trao đổi với PV Thanh Niên Online, nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng hành vi trên không bị xử phạt. Đồng quan điểm này, luật sư Nguyễn Đức Chánh phân tích: “Nhóm thanh thiếu niên quay video clip, trong đó có một người nữ chỉ mặc áo ngực và quần lót đang biểu diễn công khai trên đường đến thời điểm này chưa có quy định nào về việc xử phạt hành chính đối với hành vi này vì không xảy ra ở nơi hội họp đông người, địa điểm văn hóa, tín ngưỡng, nơi làm việc của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội”.
Đồng thời, hành vi phát tán clip này trên mạng hiện nay cũng không có quy định nào xử phạt, luật sư Chánh nói thêm.
Song song đó, một thẩm phán tòa hành chính cho biết: Theo khoản 1 Điều 10 Nghị định 73/2010/NĐ-CP ngày 12.7.2010 của Chính phủ xử phạt vi phạm quy định về nếp sống văn minh, chỉ bị xử phạt khi: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 60.000 đồng đến 100.000 đồng khi Không mặc quần, áo hoặc mặc quần áo lót ở nơi hội họp đông người, các địa điểm văn hóa, tín ngưỡng, nơi làm việc của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội. Việc xử phạt sẽ do chính quyền địa phương nơi xảy ra hành vi vi phạm lập biên bản xử phạt.
Nhưng Nghị định 73 sắp bị thay thế bởi Nghị định 167/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội… vừa ban hành. Kể từ ngày 28.12 tới đây Nghị định 167 sẽ có hiệu lực đồng thời Nghị định 73 sẽ hết hiệu lực quy định đã bỏ không xử phạt hành vi nói trên.
Theo luật sư Nguyễn Thanh Lương (Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư Bến Tre), đây là điểm hở của pháp luật, những hành vi phản cảm, không phù hợp với thuần phong mỹ tục diễn ra ở những nơi tôn nghiêm như trên sẽ không thể xử phạt được.
Đối với hành vi ăn mặc hở hang, phản cảm, theo luật sư Nguyễn Đức Chánh, hiện chỉ xử phạt nếu liên quan đến hoạt động biểu diễn.
Cụ thể, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 của Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 6.1.2009 của Chính phủ thì biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang là một trong những hoạt động văn hóa.
Tại điểm b khoản 3 của Quy chế này nghiêm cấm các hoạt động văn hóa có nội dung: Trái với thuần phong mỹ tục; người tổ chức biểu diễn nghệ thuật không được yêu cầu hoặc cho phép người biểu diễn sử dụng trang phục hoặc hóa trang không phù hợp với thuần phong mỹ tục dân tộc...
Bên cạnh đó, theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 16 Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12.7.2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa thì hành vi mặc trang phục, hóa trang gây phản cảm, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục Việt Nam sẽ bị xử phạt hành chính từ 2 - 5 triệu đồng.
Lê Nga
Nguồn: thanhnien.com.vn